Cơ sở Tứ Hiệp: :Đường Nguyễn Bồ (Ngõ 215 Ngọc Hồi) -Tứ Hiệp - Thanh Trì - Hà Nội add_Cơ sở Thái Thịnh: Số 80 Ngõ 82 Yên Lãng - Đống Đa - Hà Nội

Tel: 024.6288.5158                                               

SỬ DỤNG VÀ PHỐI HỢP KHÁNG SINH TRONG THỰC HÀNH LÂM SÀNG

26 Tháng 10 2020
Tác giả 

Nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, cập nhật các kiến thức mới, làm cơ sở đưa ra các hướng dẫn thực hành mang tính khoa học hướng tới chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người bệnh, chiều ngày 23/10/2020 Bệnh viện Nội tiết Trung ương đã tổ chức Sinh hoạt khoa học (SHKH) trực tuyến giữa 2 cơ sở Tứ Hiệp và Thái Thịnh với chủ đề: “Sử dụng và phối hợp kháng sinh trong thực hành lâm sàng”.

Tham dự và chủ trì buổi SHKH có TS.BS Phạm Thúy Hường, Phó Giám đốc Bệnh viện Nội tiết Trung; khách mời chuyên gia PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, Giám Đốc trung tâm DI & ADR Quốc gia cùng các bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, học viên đang làm việc và học tập tại 2 cơ sở của Bệnh viện.

 

Chương trình diễn ra với 02 bài báo cáo “Kháng sinh dự phòng phẫu thuật trong thực hành lâm sàng” và “Phối hợp kháng sinh hợp lý trong thực hành lâm sàng” do PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, Giám Đốc trung tâm DI & ADR Quốc gia trình bày.

Trong phần “Phối hợp kháng sinh hợp lý trong thực hành lâm sàng”, PGS Hoàng Anh chia sẻ thông tin quan trọng, trong đó nhấn mạnh dịch tễ kháng thuốc trong nhiễm khuẩn ở bệnh nhân nặng diễn biến phức tạp do đó cần có phác đồ kháng sinh kinh nghiệm và điều trị đích phù hợp dựa trên hiểu biết về vi sinh tại vị trí nhiễm khuẩn, phân tầng nguy cơ, chú trọng xét nghiệm vi sinh, hiểu biết về đặc điểm dược lý của kháng sinh.

Nội dung bài cũng đề cập đến thay đổi sinh lý bệnh ở bệnh nhân nặng ảnh hưởng lớn đến Dược động học kháng sinh, làm giảm hiệu quả điều trị kháng sinh. Áp dụng PK/PD trong tối ưu chế độ liều của kháng sinh, phối hợp kháng sinh hợp lý để tăng hiệu quả điều trị.

Từ những thông tin trên, PGS Hoàng Anh khuyến cáo cần có sự điều chỉnh kịp thời phác đồ kháng sinh theo đáp ứng lâm sàng, kết quả vi sinh. Đảm bảo 4 D: right drug, right dose, right duration và right de-escalation (theo dõi và xuống thang).

Trong chủ đề “Kháng sinh dự phòng phẫu thuật trong thực hành lâm sàng”, PGS Hoàng Anh cho biết nhiễm khuẩn vết mổ chiếm vị trí quan trọng trong nhiễm khuẩn Bệnh viện do vậy có nhiều điểm thách thức khi sử dụng kháng sinh dự phòng trong thực hành.

Kháng sinh dự phòng làm giảm đến mức thấp nhất lượng vi khuẩn (thường trú hoặc thoáng qua) trên bề mặt da xuống dưới mức có thể gây nhiễm trùng và kiểm soát được bởi hệ miễn dịch.

Để đạt hiệu quả cao trong quá trình điều trị, chỉ định kháng sinh dự phòng phẫu thuật được chỉ định trong các trường hợp sau: Tình trạng bệnh nhân; Loại phẫu thuật; Độ dài cuộc phẫu thuật; Yếu tố nguy cơ khác.

Trong phần khuyến cáo khi sử dụng, PGS Hoàng Anh lưu ý:

Thời gian dùng kháng sinh dự phòng: Kháng sinh sử dụng sau khi khâu không cần thiết; Trong nhiều trường hợp hiệu quả dùng liều lặp lại không vượt trội hơn dùng đơn liều kháng sinh; Sử dụng kéo dài kháng sinh làm gia tăng các chủng vi khuẩn kháng thuốc; Khuyến cáo dừng kháng sinh dự phòng trong vòng 24 giờ sau kết thúc phẫu thuật với các phẫu thuật sạch, sạch/nhiễm, trên bệnh nhân không có dấu hiệu nhiễm khuẩn trước phẫu thuật.

Bên cạnh đó, tầm soát dị ứng với kháng sinh beta-lactam: Kháng sinh beta-lactam là kháng sinh được sử dụng nhiều nhất trong dự phòng; Cần thiết phải tầm soát dị ứng qua hỏi tiền sử dị ứng và dị ứng thuốc; Cân nhắc dị ứng chéo giữa cephalosporin và penicillin.

Giới hạn việc phối hợp kháng sinh trong dự phòng, BS Hoàng Anh cũng lưu ý:

  • Trong đa số phẫu thuật, sử dụng 1 kháng sinh đủ để dự phòng nhiễm trùng vết mổ
  • Phối hợp kháng sinh chỉ được khuyến cáo cho các bệnh nhân có dấu hiệu của nhiễm trùng sẵn có
  • Với phẫu thuật sạch, khuyến cáo loại bỏ tất cả các nhiễm trùng trước mổ phiên
  • Triển khai phác đồ kháng sinh dự phòng cần dựa trên đào tạo liên tục, phân tích y văn cập nhật và thường xuyên tổng kết vi sinh tại Bệnh viện

Kết luận bài báo cáo, PGS.TS Hoàng Anh khuyến cáo các yếu tố đảm bảo thành công của phác đồ kháng sinh dự phòng cần:

  • Được xây dựng bởi nhóm chuyên môn đa ngành (phẫu thuật viên, bác sỹ gây mê, dược sỹ lâm sàng, bác sỹ vi sinh, bác sỹ chống nhiễm khuẩn)
  • Linh hoạt cho phép tích hợp với đánh giá lâm sàng
  • Rõ ràng, dễ thực hiện
  • Định kỳ đánh giá trong quá trình triển khai bởi nhóm chuyên môn, kèm theo phản hồi các trường hợp không tuân thủ phác đồ lồng ghép chủ động và dựa trên công việc thường quy
  • Có sự hỗ trợ tích cực từ lãnh đạo bệnh viện và lãnh đạo các đơn vị liên quan